Trích dẫn toàn văn:
NỘI DUNG VỀ PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI TRONG HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC
KINH TẾ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (HIỆP ĐỊNH TPP)
1.
NỘI DUNG CAM
KẾT VỀ PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI (PVTM)
Chương PVTM trong Hiệp định TPP gồm 02 Phần chính:
(i) Các quy định về biện pháp tự vệ và (ii) Các quy định về thuế chống bán phá
giá và chống trợ cấp.
Nhìn chung, Chương PVTM thúc đẩy minh bạch hóa và
quy trình thủ tục trong các vụ kiện phòng vệ thương mại thông qua việc đưa ra
tiêu chuẩn hoặc các thông lệ tốt nhất nhưng không ảnh hưởng đến các quyền và nghĩa
vụ của các thành viên TPP trong WTO.
Trong điều khoản về Biện
pháp tự vệ toàn cầu, Hiệp định TPP đặt ra các quy định đối với biện pháp
tự vệ toàn cầu theo hướng quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ phù hợp với Hiệp
định Tự vệ của WTO. Tuy nhiên, Chương PVTM trong Hiệp định TPP bổ sung
thêm quy định mang tính WTO+
đó là khi áp dụng biện pháp tự vệ toàn
cầu, một nước thành viên có thể loại trừ hàng hóa nhập khẩu từ một nước thành
viên TPP khác trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu từ quốc gia đó không phải là nguyên
nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng.
Hiệp định TPP thiết lập Cơ
chế tự vệ trong thời gian chuyển đổi, cho phép một nước thành viên áp
dụng biện pháp tự vệ trong thời gian chuyển đổi (thời gian tự do hóa thương mại
giữa các thành viên) nếu lượng nhập khẩu gia tăng đột biến do kết quả của việc
cắt giảm thuế theo Hiệp định gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản
xuất trong nước. Đây là cơ chế phổ biến trong các Hiệp định thương mại tự do và
mang tính chất như một “van an toàn” nhằm ngăn chặn tác động tiêu cực đến ngành
sản xuất trong nước do quá trình tự do hóa thương mại. Quy định về biện pháp tự
vệ trong thời gian chuyển đổi trong Hiệp định này được xây dựng theo hướng chặt
chẽ hơn so với Hiệp định tự vệ của WTO, hạn chế việc lạm dụng, đảm
bảo sự minh bạch thông qua việc cho phép các bên liên quan được tiếp cận các
tài liệu cần thiết, đồng thời có cơ hội được thông báo trước khi biện pháp tự
vệ được áp dụng và tham vấn sau khi biện pháp này được áp dụng. Các biện pháp
tự vệ này có thể được áp dụng trong thời gian 02 năm và trong trường hợp cần
thiết có thể được gia hạn thêm 01 năm để ngăn chặn hoặc khắc phục thiệt hại
nghiêm trọng.
Hiệp định TPP đưa ra các quy định yêu cầu một thành
viên đang áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời phải có hình thức bồi thường thông
qua thỏa thuận. Đồng thời, các thành viên không được áp dụng nhiều hơn một biện
pháp tự vệ tạm thời được cho phép trong Hiệp định đối với một hàng hóa trong
cùng một thời điểm.
Đối với các quy định
về chống bán phá và chống trợ cấp, các nước
thành viên TPP phải tuân thủ các quy định nêu trong Hiệp định Chống bán phá giá
và Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO. Ngoài ra, các nước thống nhất Phụ lục về
thông lệ tốt nhất (best
practices) liên quan đến thủ
tục áp dụng các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp.
Những cam kết về vấn đề phòng vệ thương mại đem lại
nhiều ý nghĩa và lợi ích đối với Việt Nam trong Hiệp định TPP.
Thứ nhất, các cam kết thể hiện thiện chí của các nước thành viên TPP dành cho
nhau thông qua các quy định đảm bảo sự minh bạch về thủ tục, đảm bảo cơ hội cho
các bên được thông báo và tham vấn, nêu quan điểm và bình luận trước và trong
quá trình điều tra, được loại trừ khỏi cuộc điều tra nếu hàng hóa nhập khẩu
không phải nguyên nhân quan trọng gây thiệt hại. Do đó, Việt Nam cũng như các
nước thành viên TPP đều đảm bảo có được cơ chế phòng vệ thương mại hợp lý đối
với các ngành sản xuất trong nước trước sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng
của hàng hóa nhập khẩu.
Thứ hai, nhìn từ góc độ nước xuất khẩu, khi các mặt hàng chủ lực của Việt Nam
được hưởng lợi nhiều khi hàng rào thuế quan được bãi bỏ theo cam kết của Hiệp
định, sẽ tồn tại nguy cơ các nước thành viên TPP áp dụng các biện pháp tự vệ để
bảo vệ ngành công nghiệp trong nước. Các cam kết khá chặt chẽ trong Chương PVTM
mang tính WTO+ giúp hạn chế việc các nước thành viên TPP lạm dụng
các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ nhằm bảo hộ ngành sản
xuất trong nước, đi ngược lại với mục tiêu trong các hiệp định của WTO, góp phần tạo thuận lợi cho việc mở cửa thị trường mà không
gặp phải các rào cản gia tăng từ các biện pháp phòng vệ thương mại.
Thứ ba, việc tham gia các cam kết Hiệp định TPP giúp Việt Nam hoàn thiện hệ
thống pháp luật của Việt Nam và quốc tế trong lĩnh vực phòng vệ thương mại. Từ
đó, nâng cao khả năng thực thi của các cơ quan chức năng có liên quan trong các
vụ việc phòng vệ thương mại Việt Nam trong tương lai./.

0 nhận xét :
Đăng nhận xét